Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

Chữ Dũng của doanh nhân

 Doanh nhân không chỉ là người giỏi chèo lái doanh nghiệp mà còn có lòng dũng cảm. Dũng cảm, vì thực chất họ đã hứng lấy trách nhiệm trước của biết bao nhiêu con người.

Bắt đầu vì mình nhưng kết thúc?

Câu chuyện bắt đầu từ một doanh nhân đang gặp khó khăn. Doanh nghiệp của anh đã có thâm niên gần chục năm. Trước cơn bão khủng hoảng tài chính vừa qua, anh đang phải lèo lái để con thuyền của mình không chìm. Trong những câu chuyện tâm tình, anh bảo, anh hoàn toàn có thể dừng lại. Dừng lại để không phải mệt mỏi nữa, không phải chịu áp lực nữa. Dừng lại, có thể lại quay trở về ở vạch xuất phát, nhưng nhẹ nhàng hơn, bình yên hơn. Song, một trong những nguyên nhân làm anh chưa thể quyết định dừng lại là, nếu anh dừng lại thì đội ngũ cộng sự đã sát cánh cùng anh mười mấy năm nay sẽ ra sao? Họ đã là những người làm công ăn lương tận tụy, giờ, giữa thời buổi khó khăn mà thất nghiệp, từng con thuyền nhỏ là gia đình họ sẽ về đâu? Với anh, tính toán cho riêng mình thì dễ, tính toán cho tất cả những người lao động trong công ty trong tình hình này mới thật là khó.

Trong tất cả các bài học về kinh doanh, có lẽ bài học về sự kết thúc một sựnghiệp là bài học ít được mọi người quan tâm nhất. Tuy nhiên tất cả các doanh nhân có lương tâm đều phải tính toán để lo cho người lao động nếu việc kinh doanh không thuận buồm xuôi gió. Một doanh nghiệp được khởi đầu có thể từ khao khát của bản thân chủ doanh nghiệp. Nhưng kết thúc của nó thì không đơn giản chỉ vì chủ doanh nghiệp ấy.

Một doanh nhân khác đã dằn vặt suốt 3 - 4 năm trời về việc có nên cho một nhân viên lâu năm nghỉ việc hay không. Vấn đề nảy sinh khi nhân viên này không thích nghi được với điều kiện kinh doanh mới. Nếp làm việc cũ của nhân viên này còn làm ảnh hưởng đến tác phong, cung cách làm việc của một số nhân viên liên quan đến anh ta. Nhưng cho anh ta nghỉ, nghĩa là một gia đình đứng trước hiểm nguy, vì nhân viên ấy đã vào cái tuổi khó có thể kiếm được việc làm. Trong khi đó cũng có những nhà quản lý sẵn sàng ép những nhân viên dưới quyền “về hưu khi họ không còn “được việc” như mong muốn. Chủ doanh nghiệp tuyển dụng người lao động vì người ấy đáp ứng yêu cầu của mình. Nhưng sẽ thật áy náy khi nói “good-bye”, đơn giản vì người ấy không đáp ứng yêu cần nữa.

Làm doanh nhân thì tự do, tự chủ. Nhưng trong sự tự do ấy, áp lực cũng không phải là ít. Áp lực do không thể chỉ vì mình. Áp lực do phải hành động vì nhiều người khác...

Vì sao doanh nhân trở thành doanh nhân?

Một doanh nhân khác cũng đã gây dựng sự nghiệp của mình từ con số không. Có thất bại để hôm nay thành công. Nhưng trong suốt quá trình ấy anh đã luôn nghĩ đến những người đồng hành cùng anh trên con đường nhiều gian khó. Anh lo đến từng bữa ăn cho họ, lo sự an toàn trong từng buổi đi làm của họ.

Cho đến khi doanh nghiệp của anh trở thành tổng công ty có hàng chục nhánh khắp cả nước, thì anh vẫn luôn bị trăn trở bởi việc chọn lựa giữa kiểu quản trị nhân sự phương Tây hay phương Đông. Và giữa những trăn trở ấy, thì hành xử trong thực tế vẫn nghiêng về sự sẻ chia với người lao động. “Kinh doanh và chia sẻ” là triết lý của anh.

Chắc nhiều người biết đến Murthy, nhà sáng lập Infosys Technologies, tập đoàn phần mềm lớn thứ hai Ấn Độ có 58 .000 nhân viên ở hơn 20 nước trên thế giới.

Ông tâm sự rằng: “Hệ thống các giá trị mà tôi theo đuổi khi thành lập công ty là của cha mẹ tôi trao lại. Cha tôi có những quan niệm rất rõ ràng về sự trung thực, khí khái và đạo đức công việc. Còn mẹ tôi dạy tôi hy sinh (thời gian và tiền lạc) cho mọi người”. Và ông cho rằng: “Nếu chúng ta không ta chia sẻ với các cổ đông, nhân viên, khách hàng và Chính phủ của mình, tất cả chúng ta sẽ không có tương lai”.

Trở thành tỷ phú, ông vẫn sống đơn giản và chia sẻ với nhân viên mình... Không chỉ các “công nhân có cổ cồn” mà cả những nhân viên kỹ thuật, điện tử, kể cả tài xế cũng có cổ phiếu của công ty đăng ký trên thị trường Nasdaq. Cho đến năm 2001, ít nhất mỗi tuần một lần ông đi xe buýt tới các cơ sở của tập đoàn, và như mọi nhân viên, vẫn xếp hàng chờ lấy thức ăn tại các nhà ăn công ty.

Vì sao doanh nhân trở thành doanh nhân? Vì họ dũng cảm. Dũng cảm, vì thực chất họ đã hứng lấy trách nhiệm trước cuộc sống của biết bao nhiêu con người.

Nguồn:  Doanh nhân và pháp luật

Ngôn ngữ giúp bán hàng thành công


 Bán hàng vốn đã không dễ dàng, càng trở nên khó hơn trong thời kỳ kinh tế suy thoái. Vậy phải dùng từ ngữ nào để thuyết phục khách hàng chịu bỏ tiền mua hàng?

Chủ đề tưởng chừng như rất cơ bản này trong kinh doanh lại được diễn giả Dan Seidman, một trong 12 chuyên gia huấn luyện bán hàng hàng đầu ở Mỹ, quan tâm chia sẻ với các doanh nghiệp Việt Nam.

Bí quyết ngôn ngữ tạo sự ảnh hưởng rất lớn đến việc bán hàng, nhất là những người sử dụng điện thoại để giao tiếp với khách hàng. Người bán hàng thành công phải biết cần nói gì và nói như thế nào. Nhờ ngôn ngữ, họ có thể truyền đạt và giải mã những thông điệp ẩn mà những người bán hàng kém thành công hơn thường bỏ qua.

Vì vậy, người bán hàng cần có kỹ năng phân tích cách nói chuyện của khách hàng để nắm bắt tâm lý, vận dụng những từ ngữ có sức ảnh hưởng cao, xác định và tránh dùng những từ quen thuộc nhưng dễ làm giảm sức ảnh hưởng và khiến khách hàng từ chối.

Thông thường, người ta thường mua hàng vì một trong hai lý do: Để giải quyết một vấn đề đang gặp phải, hoặc để hưởng thụ những tiện ích của sản phẩm. Vì vậy, nguyên tắc đầu tiên để bán hàng thành công là phải xác định được hai nhóm khách hàng này.

Ví dụ, khi một người mua xe hơi, phải biết anh ta mua vì tiện ích sang trọng, tăng tốc nhanh, bảo hành tốt; hay mua để giải quyết các vấn đề: không dám chở đối tác đi vì ngại xe cũ, không an toàn khi đi đường cao tốc, thường xuyên hư hỏng.

Vậy, hãy đặt câu hỏi và lắng nghe tốt để ứng biến kịch bản bán hàng phù hợp với từng động cơ mua hàng cụ thể.

Một nguyên tắc nữa quan trọng không kém là đừng làm giảm tầm quan trọng của những gì bạn định nói. Nhiều nhân viên bán hàng thường có thói quen mở đầu cuộc giao tiếp bằng câu: “Tôi chỉ muốn nói với anh, chị về... Tôi chỉ muốn xin vài phút của anh, chị...”, vì cho rằng đó là cách nói khiêm tốn, dễ có thiện cảm với người đối diện.

Song, khi nói “chỉ muốn...” thì họ đã làm những gì mình muốn nói trở nên kém quan trọng và ít giá trị. Thay vì vậy, hãy mở đầu bằng một phát biểu gây ấn tượng để khách hàng chú ý, quan trọng là phải đưa vào thông điệp ấy một lợi ích vượt trội của sản phẩm.

Thực tế, nhiều ngươi bán hàng sau khi thay đổi thói quen này đã mang lại doanh số bán hàng rất cao.

Trong bán hàng, có không ít nhân viên bán hàng thường năn nỉ khách hàng mua sản phẩm, hoặc do văn hóa khiêm tốn của người phương Đông nên nhiều người bán hàng hay sử dụng câu nói: “Xin vui lòng cho tôi trình bày sản phẩm”. Nhưng một nhân viên bán hàng chuyên nghiệp thì phải tránh xa những câu nói này.

Phải giao dịch với khách hàng bình đẳng, cho khách hàng hiểu rằng: bạn là người hiểu sản phẩm nên chắc chắn giỏi hơn khách hàng, bạn phải là người tư vấn, giúp cho khách hàng có những thông tin hữu ích và là chuyên gia tư vấn sản phẩm cho khách hàng. 

Khi gặp khách hàng khó tính, một ứng xử thông thường nhất là bỏ khách hàng đó để tập trung vào khách hàng khác. Tuy nhiên, nếu cố gắng thuyết phục khéo léo, bạn vẫn có thể thành công.

Trong trường hợp người mua từ chối, không quan tâm sản phẩm, cách xử lý tốt nhất là nên yêu cầu khách hàng giải thích thêm khi họ từ chối mua.

Nếu một khách hàng nói rằng: “Chúng tôi thấy tình hình hiện nay khá ổn, chúng tôi chưa cần mua sản phẩm của anh” để từ chối, người bán hàng cần biết cách đặt câu hỏi để xem khách hàng có ý gì khi dùng đại từ “chúng tôi”? Liệu họ có thể phát biểu cho cả một tập thể?

“Khá ổn” có phải là “tốt” không? Và liệu về lâu về dài, tình trạng “khá ổn” đó có phải là điều tốt nhất cho họ? Nếu họ thấy hiện nay chưa cần, thì liệu trong tương lai có chào hàng với họ được không? 

Cũng có nhiều nhân viên bán hàng khi bị khách hàng từ chối thường hỏi: “Tại sao anh, chị lại mua gói dịch vụ của công ty ấy?”, “Vì sao quý vị lại đầu tư khoản này?”. Cách hỏi này sẽ dễ làm người nghe cảm thấy như đang bị phê bình.

Đặt câu hỏi “tại sao” nghe như người hỏi đang mỉa mai chỉ số IQ của người nghe. Khách hàng mà cảm thấy vậy thì cơ hội bán hàng của bạn đi đứt.

Vì vậy, tinh tế hơn, hãy hỏi “Như thế nào?”. Ví dụ: “Ông đã đưa ra quyết định mua sản phẩm cũ như thế nào?”, hoặc “Những lý do nào khiến anh, chị lựa chọn sản phẩm đang dùng?”.

Một nguyên tắc không thể thiếu của người bán hàng là phải dự đoán được tình huống khách hàng từ chối, phản hồi để không bị bất ngờ và có phương án xử lý. Không thể nói: “Để tôi về công ty xem lại thông tin rồi sẽ trả lời”.

Khi bị từ chối, người bán hàng nên lưu ý các nguyên tắc sau: Không cố gắng bán, không phản hồi từ chối bằng cách nhấn mạnh tính ưu việt của sản phẩm, kể lể về sản phẩm của mình. Không tỏ ra quá nhiệt tình vì càng khiến khách hàng thấy chúng ta không chuyên nghiệp, thay vào đó là giữ thái độ bình tĩnh.

Một bí quyết ngôn ngữ trong bán hàng là không nên dùng câu “nếu” mà nên nói “khi”. Bởi khi dùng chữ “nếu” sẽ khiến khách hàng không chắc chắn về sản phẩm của bạn.

Câu nói này cực kỳ tối kỵ trong ngành bảo hiểm và tài chính. Chẳng hạn, khi bạn nói: “Khi khách hàng dùng sản phẩm của chúng tôi, một trong những tiện ích anh sẽ có được là...”, thì cảm giác của người nghe sẽ khác hẳn, họ không chỉ hình dung được rõ hơn sản phẩm so với câu “Nếu khách hàng dùng sản phẩm của chúng tôi...”.

Câu “khi” còn trở thành vũ khí quan trọng làm khách hàng tin tưởng vào người bán hàng và cho rằng, việc sử dụng sản phẩm của bạn là điều hiển nhiên.
Flag Counter