Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Vì sao tỷ phú Trung Quốc ghét bị xếp hạng mức độ giàu có?


Zong Qinghou đã giành lại ngôi người giàu nhất Trung Quốc












Với những người giàu có trên thế giới, việc được lọt vào bảng xếp hạng các tỷ phú của các tạp chí quốc tế là một vinh dự lớn. Tuy nhiên với giới nhà giàu Trung Quốc đây lại bị xem như “điềm” chẳng lành khiến họ rất “ghét”.

Và bảng xếp hạng mới nhất “Những người giàu nhất Trung Quốc 2012” được công bố ngày 24/9 không phải ngoại lệ. Theo đó năm nay ngôi vị người giàu nhất Trung Quốc đã thuộc về “ông trùm” ngành đồ uống Zong Qinghou, chủ tập đoàn Wahaha Group. Đây là vị trí ông từng nắm giữ năm 2010 trước khi bị mất hồi năm ngoái.

Tổng tài sản của ông Zong được ước tính vào khoảng 12,6 tỷ USD, vượt xa mức 10,3 tỷ USD của đối thủ xếp thứ hai là Wang Jianlin, chủ của tập đoàn bất động sản và chuỗi rạp chiếu phim Dalian Wanda Group.

Với những thông tin tỷ mỉ và liên hệ lí thú, bảng xếp hạng năm nay đem đến nhiều điều thú vị không chỉ bó hẹp ở những con số. Trong đó điều đáng chú ý nhất đó là các tỷ phú ngành sản xuất đang phất lên, vượt qua các “ông trùm” bất động sản để trở thành lực lượng đa số trong nhóm 1000 người được xếp hạng.

Đáng ngạc nhiên nhất là lần đầu tiên kể từ năm 2005, số lượng người Trung Quốc sở hữu từ 1 tỷ USD trở lên giảm 20 người so với năm ngoái, xuống còn 251 người. Gần một nửa số triệu phú và tỷ phú được xếp hạng vẫn trụ vững trong danh sách dù phú quý thụt lùi, trong đó có 37 người chứng kiến tài sản “bốc hơi” mất 50%.

Ngoài ra còn có một sự trùng lặp thú vị đó là có tới 12,8% người được xếp hạng sinh năm Mão. Trong khi đó những người sinh năm Sửu có vẻ là ít phát tài nhất khi chỉ chiếm 6%. Theo tạp chí Hồ Nhuận, từ trước đến nay những người sinh năm Mão luôn lấn lướt bảng xếp hạng này, ngoại trừ năm 1999.

Trong khi những người khác phải ghen tỵ với các “đại gia” trên bảng xếp hạng của Hồ Nhuận thì không ít người lại xem đó là “điềm xấu”. Suy nghĩ này không phải bây giờ mới xuất hiện. Ngay từ năm 2009, trong cuốn sách “Lời nguyền của tạp chí Forbes”, tác giả Wang Gang đã miêu tả những rắc rối có thể giáng xuống đầu bất kỳ người Trung Quốc nào có tên trên bảng xếp hạng các triệu phú, tỷ phú thế giới của Forbes.

Những rắc rối đó bao gồm sự “dò xét” kỹ lưỡng hơn không chỉ từ cơ quan thuế mà còn từ cả cơ quan chống tham nhũng và công chúng nói chung. “Nếu bạn có tên trong danh sách của Forbes, bạn sẽ sớm mang họa vào thân”, bài viết của ông Wang dự đoán.

Một nghiên cứu mang tính học thuật mới đây đem đến một cái nhìn có tính logic hơn về vấn đề này nhưng kết luận thì cũng tương tự. Trong cuốn: “Cái giá của việc trở thành tỷ phú tại Trung Quốc: Bằng chứng dựa trên danh sách người giàu có của Hồ Nhuận”, một số học giả Oliver Rui, Xianjie He và Xiao Tusheng chỉ ra rằng: trong số các công ty niêm yết có chủ là người được Hồ Nhuận xếp hạng, giá cổ phiếu của họ đã sụt giảm đáng kể 3 năm trở lại đây.

Dựa trên phân tích các bảng xếp hạng của Hồ Nhuận từ năm 1999 đến 2007, các tác giả chỉ ra rằng cả những cá nhân lẫn các doanh nghiệp mà những người được xếp hạng sở hữu đều bị chính phủ “soi” kỹ hơn. Những khoản trợ cấp, trợ giá của chính phủ cho các công ty liên quan đến các “đại gia” được Hồ Nhuận xếp hạng cũng sụt giảm. Các công ty này cũng có xu hướng che giấu nhiều hơn đối với lợi nhuận của mình.

“Nhà đầu tư tại Trung Quốc xem việc các chủ doanh nghiệp bị đưa vào danh sách người giàu của tạp chí Hồ Nhuận là tin xấu”, các tác giả kết luận. Nhưng còn có tin xấu hơn cho các “đại gia” này đó là theo các học giả trên, tỷ lệ người bị kết tội, điều tra hoặc bắt giữ sau khi có tên trong bảng xếp hạng mức độ giàu có lên tới 16,95%, cao gấp 3 lần mức 6,84% của những chủ doanh nghiệp khác không có tên trong bảng xếp hạng trong cùng thời kỳ.

Theo Thanh Tùng
Dân Trí/Business Insider

Mô hình quản trị mới mẻ quyết định thành công của Harvard

Vào năm 1636, Harvard được chính quyền Khu Vịnh Massachusetts thành lập như là một cơ sở công lập. Ảnh: wikipedia
Không nước nào thống trị nền công nghiệp nào nhiều như là Mỹ thống trị giáo dục đại học. Ví dụ như, trong Bảng xếp hạng các đại học Thế giới của đại học Jiao-Tong (Thượng Hải, Trung Quốc), 17 trong số 20 trường đại học tốt nhất thế giới là của Mỹ, với Harvard đứng đầu danh sách với một khoảng chênh lệch đáng kể.

Cách giải thích thông thường cho hiện tượng này bao gồm: sự giàu có của Mỹ, dân số đông, hào phóng tài trợ nghiên cứu, tư nhân hoạt động từ thiện rộng rãi, và khả năng thu hút học giả khắp thế giới. Nhưng giải thích như vậy vẫn không đủ. Cho dù khoe là nền kinh tế lớn nhất thế giới, Mỹ chỉ chiếm một phần tư GDP toàn cầu với khoảng 1/20 dân số thế giới. 

Và không chỉ duy nhất Mỹ hỗ trợ nghiên cứu. Hơn nữa, với cách giải thích như trên thì các nước lớn như Pháp, Đức, Nhật, và thậm chí Trung Quốc và Ấn Độ, lẽ ra cũng phải có đại diện ở những hạng đầu trong bảng xếp hạng đại học toàn cầu. Thế nhưng các nước này chỉ xuất hiện đâu đó trong các bảng xếp hạng, thậm chí còn không hề có mặt.

Thật ra, những nước này thiếu một mảng quyết định trong câu đố khó: mô hình quản trị mới mẻ của Mỹ trong giáo dục đại học.

Vào năm 1636, Harvard được chính quyền Khu Vịnh Massachusetts thành lập như là một cơ sở công lập. Giá trị của Harvard đối với Massachusetts được ghi trong hiến pháp bang thông qua vào năm 1780, bao gồm một đoạn về chức năng và ranh giới của đại học này.

Khi sinh viên Harvard chi phối hệ thống lập pháp của Massachusetts, đại học này được chiếu cố hỗ trợ. Nhưng, trong thập niên 1840, tình trạng nhập cư hàng loạt, được thúc đẩy bởi nạn đói ở Ireland, đã làm thay đổi sự thăng bằng nhân khẩu trong bang, cho phép các nhà hoạt động dân túy lấy lại quyền kiểm soát hệ thống lập pháp.

Gần như ngay lập tức, Harvard bị công kích là quá tự phụ, quá đặc quyền và quá đắt tiền. Ngay cả chương trình giảng dạy cũng bị chỉ trích. Trong hai thập niên sau đó, bang ngày càng cản trở hoạt động của Harvard, ví dụ như từ chối tài trợ và ngăn cản chỉ định giảng viên. Tình trạng này đạt đỉnh điểm vào năm 1862, khi cơ quan lập pháp chặn việc bổ nhiệm một hiệu trưởng đại học.

Đáp lại, Harvard yêu cầu trường được đặt “ngoài phạm vi của những tranh chấp và thay đổi chính trị thông thường” để “nằm trong tay của các sinh viên quan tâm đến giáo dục nhiều nhất.” Vào ngày 29.4.1865, đề xuất cấp tiến này được Tòa án Tối cao Massachusetts (cơ quan lập pháp lưỡng viện của bang) thông qua, nhờ vận động hành lang ráo riết và thiện chí đến từ hoạt động nghiệp đoàn nổi trội của sinh viên Harvard trong thời Nội chiến. Kể từ đó, ban quản trị Harvard dành cho sinh viên kiểm soát.

Thành công của Harvard thôi thúc các đại học khác ở Mỹ có hành động tương tự, bắt đầu là đại học Yale và trường William & Mary. “Phương pháp Mỹ đích thực” này – theo cách gọi của Charles William Eliot, hiệu trưởng nhiều năm nhất của Harvard - trở thành tiêu chuẩn không chỉ của các đại học tư, mà còn của các trường công, như Michigan và  Purdue, và ngay cả những trường tôn giáo, như là Notre Dame và Duke.

Hiện nay, 19 trong top 20 đại học Mỹ trong bảng xếp hạng của US News and World Report – bảng xếp hạng được theo dõi nhiều nhất – được sinh viên kiểm soát (đại diện sinh viên chiếm từ 50% trở lên trong ban quản trị). Ngoại lệ duy nhất là viện Công nghệ California, với một ban quản trị có 40% đại diện sinh viên. 

Trong top 5, ba đại học (Harvard, Yale và Columbia) do sinh viên quản lý hoàn toàn, và hai trường (Princeton và Stanford) do sinh viên kiểm soát 90%. Các sinh viên điều hành ngay cả ở trường công, như Purdue (90%) và Michigan (63%). Trung bình, thành phần sinh viên chiếm 63% ban quản trị của top 100 đại học Mỹ, cả trường công và tư.

Nói chung, một tỉ lệ sinh viên cao hơn trong ban quản trị gắn với một thứ hạng cao hơn của trường, tính chọn lọc tăng và một sự ủng hộ rộng lớn hơn. Sau cùng, không tập thể nào chăm sóc cho uy tín của một trường đại học nhiều hơn là sinh viên của trường, những người được hay mất sự quí trọng khi thứ hạng của trường mình học tăng lên hay giảm sút.

Sinh viên thực sự có nhiều động cơ nhất để dành công sức và quản lý trường có hiệu quả. Nhờ hiểu biết và gần gũi trường, sinh viên cũng là những nhà lãnh đạo hiệu quả nhất. Thông qua các hệ thống sinh viên, các thành viên ban quản trị có thể nhanh chóng nắm thông tin và hành động ngay không trì hoãn.

Tất cả các đại học lớn là những tổ chức phi lợi nhuận, được sáng tạo để thực hiện giáo dục, và tạo lợi ích cho cả xã hội. Nhưng các đại học Mỹ đã tìm thấy một cách để đưa những lợi ích của cạnh tranh vào trong ý niệm châu Âu về những tập đoàn phi lợi nhuận hay cái gọi là miễn phí. 

Việc thiếu lợi nhuận không làm giảm bớt động cơ tranh đua vì uy tín trường của một ban quản trị chủ yếu là sinh viên, chẳng hạn trong việc thuê đội ngũ giảng dạy nổi tiếng, tuyển lựa những sinh viên xứng đáng và nỗ lực đạt những thành tựu về thể thao hay nghệ thuật.

Sử dụng sinh viên để đưa những lợi ích của cạnh tranh vào trong các thể chế phi lợi nhuận là ví dụ cho tài thích nghi của Mỹ. Và đây là điều mà những nước mong muốn cạnh tranh với các đại học Mỹ nên ghi nhận.

Theo Võ Phương
Sài Gòn Tiếp thị
Flag Counter