Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

Ngành ngân hàng: Nhân viên đối mặt nguy cơ thất nghiệp


Trước yêu cầu tái cơ cấu hệ thống và lợi nhuận đang sụt giảm, nhiều lãnh đạo ngân hàng tin chắc sẽ phải sàng lọc và nói lời chia tay nhiều nhân sự.
Sắp tới, nhiều ngân hàng sẽ phải tái cơ cấu và việc thanh lọc đội ngũ nhân sự là không tránh khỏi. Ảnh minh họa: Anh Quân.
Sắp tới, nhiều ngân hàng sẽ phải tái cơ cấu và việc thanh lọc đội ngũ nhân sự là không tránh khỏi. Ảnh minh họa: Anh Quân.

Theo kết quả khảo sát về cung - cầu nhân lực ngân hàng - tài chính do Viện Nhân lực ngành ngân hàng tài chính (BTCI) và Hay Group thực hiện, trong năm 2013 sẽ có khoảng 32.000 sinh viên chuyên ngành tài chính - ngân hàng ra trường nhưng chỉ có khoảng 20.000 người được các tổ chức tài chính, ngân hàng tuyển dụng. Như vậy sẽ có khoảng 12.000 sinh viên thất nghiệp hoặc làm trái ngành. Còn trong vòng 4 năm tới, số sinh viên tài chính - ngân hàng không được tuyển sẽ khoảng 13.000 người.

Trao đổi về những lo ngại lượng lớn nhân viên ngân hàng sẽ thất nghiệp do cung vượt cầu trong vài năm tới, giám đốc khối nhân sự tại một công ty cổ phần ở Hà Nội cho rằng có thể con số sinh viên không tìm được vị trí trong ngân hàng còn nhiều hơn cuộc khảo sát trên cung cấp. Nữ giám đốc nhân sự này nhận định: "Vài năm tới, sau một đợt tăng trưởng nóng về số lượng nhân viên ngân hàng thì chắc chắn sẽ có một lượng dư cung nhất định. Tuy nhiên, nhân sự cao cấp thì vẫn vô cùng hiếm hoi. Do đó, việc có phải sa thải một loạt nhân viên kém năng suất để đón về một hai nhân viên cấp trung - cao, chúng tôi cũng đồng tình".

Không riêng gì sinh viên mới ra trường, bản thân những nhân viên đang làm việc tại các nhà băng cũng đối mặt với nguy cơ "dừng cuộc chơi" trước yêu cầu tái cơ cấu ngân hàng và bài toán doanh thu sụt giảm. Ông Lưu Trung Thái - nguyên phó Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội (MB), người đang làm Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Chứng khoán Quân đội (MBS) - thừa nhận, thách thức lớn nhất đối với mỗi doanh nghiệp hiện nay là doanh thu, các chỉ tiêu kinh doanh giảm, nên phải điều chỉnh kế hoạch về chi phí.

"Thậm chí, kể cả trong điều kiện kết quả kinh doanh tốt, có thể chính sách nhân sự mỗi nơi khác nhau nhưng tôi tin các tổ chức, ngân hàng đều xác định tỷ lệ sàng lọc nhất định, thường tiêu chuẩn là 5-10%", ông Thái cho biết.

Ông Nguyễn Đức Vinh - Tổng giám đốc Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) - cũng cho rằng, có thể một số ngân hàng sẽ tiến hành song song với quá trình chọn lọc là sắp xếp lại nhân sự phù hợp. Với tư cách là Chủ tịch Viện Nhân lực ngân hàng tài chính, ông Vinh cũng thừa nhận: "Có thể độ 'hot' của ngành ngân hàng sẽ giảm đi. Hơn nữa, ngân hàng ngày hôm nay không phải giống 10 năm trước. Nếu vẫn áp dụng, làm việc hành xử như những gì làm trong quá khứ thì không ổn".

Chia sẻ với chúng tôi, CEO của VPBank nói một cách tếu táo nhưng khá thẳng thắn: "Kể cả thế hệ như chúng tôi cũng đã già rồi, cần phải thay đổi và phải xây dựng một đội ngũ mới, trẻ trung hơn, giỏi giang hơn".

Trong tình cảnh một công ty buộc phải cắt giảm chi phí ồ ạt và đối mặt sự sống còn, câu chuyện "bỏ ai, giữ ai" cũng khiến các lãnh đạo ngân hàng đau đầu. Theo họ, việc thực thi một chính sách cắt giảm nhân sự vấp phải rất nhiều thách thức. "Tôi nghĩ thách thức lớn nhất là việc sẽ mất đi những người xuất sắc", ông Thái tâm sự.

Bà Vũ My Lan - Tổng giám đốc Công ty AON Việt Nam - lại đưa ra quan điểm rất cứng rắn và có phần trái ngược: "Nếu đã có những nhân viên xuất sắc thì không bao giờ tôi để mất họ. Tái cấu trúc không có nghĩa là cắt bỏ một bộ phận không hiệu quả mà là chỉ là sàng lọc chất lượng". Tuy nhiên, bà My Lan cũng nhấn mạnh, bà sẽ còn quan tâm đến "chất của con người" để đưa ra quyết định sa thải, sàng lọc.

Nên nói gì và làm gì với các nhân viên khi sa thải họ là điều vô cùng khó khăn đối với các vị lãnh đạo ngân hàng. Do đó, bà Huỳnh Ngọc Trúc - Giám đốc nhân sự Ngân hàng HSBC - cho rằng mỗi ngân hàng cần hoạch định một kế hoạch truyền thông rõ ràng, trong đó kể cả những cách thức về mặt tình cảm trước khi thực thi kế hoạch cắt giảm.

Nguyên nhân là người Việt Nam chưa có văn hóa về cái gọi là "tái cấu trúc" và dễ "sốc" trước những thông tin về sàng lọc nhân sự. "Khi nghe đến cụm từ 'tái cấu trúc', phản ứng thông thường của họ rất tiêu cực. Với những doanh nghiệp ở Việt Nam, trước khi định tái cấu trúc thì nên hoạch định một kế hoạch về truyền thông rõ ràng để nói chuyện với họ", bà Trúc phân tích và nhấn mạnh việc phải thanh lọc đội ngũ trong bối cảnh này là bình thường.

Để việc cắt giảm nhân sự không trở nên quá nặng nề, theo ông Lưu Trung Thái, điều quan trọng nhất các lãnh đạo phải làm được với nhân viên là sự chân thành. "Một người tổng giám đốc khi tuyên bố sa thải, cắt giảm nhân sự thì cần tạo dựng một sự công bằng. Quan trọng hơn là bằng sự chân thành để họ hiểu được đây là điều phải làm. Cuối cùng, chúng ta cũng nên cố gắng hết mình để tạo được điều kiện tốt hơn cho người ra đi", ông Lưu Trung Thái chia sẻ.

5-7 năm gần đây, ngân hàng trở thành một trong những ngành được trả lương cao nhất và được chính những người trong ngành gọi là "những năm vàng của ngành ngân hàng". Tuy nhiên, bà Ngọc Trúc thì thẳng thắn cho rằng các nhân sự ngành này đang may mắn bởi họ đã được trả mức lương cao hơn giá trị hiện có. "Những người ở vị trí cao, quản lý hay chuyên viên tư vấn cho khách hàng cấp cao như ở Singapore, phải cần ít nhất 5-10 năm mới được tư vấn về tài chính cho ngân hàng. Trong khi ở Việt Nam, đa số lại chỉ cần 5 hoặc 6 tháng là đã có thể làm ở vị trí này", bà dẫn chứng.

Do đó, Giám đốc nhân sự HSBC cho rằng việc tái cấu trúc là nên làm. Theo bà, không thể phát triển mãi trong khi khả năng phát triển con người có giới hạn. Bà Huỳnh Ngọc Trúc lấy ví dụ trường hợp của ngân hàng mình: "Năm nay HSBC quyết định sẽ không phát triển về số lượng con người, thậm chí là có chiến lược sàng lọc".

Theo Thanh Thanh Lan
vnexpress

Thương hiệu Việt tan vỡ: Biếu không Tribeco cho nước ngoài


Thương hiệu Việt tan vỡ: Biếu không Tribeco cho nước ngoài








Là một trong những thương hiệu đầu tiên của ngành giải khát và cũng là của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, nhưng cuối cùng Tribeco đã phá sản và thương hiệu rơi vào tay nước ngoài.
Kết cục buồn


Ngày 24/8 vừa qua, Đại hội bất thường Công ty cổ phần nước giải khát Sài Gòn (Tribeco Sài Gòn) đã thống nhất giải thể DN. Đây thực sự là cú "sốc" lớn bởi nhiều người không ngờ rằng một thương hiệu mạnh lại có kết cục buồn như vậy.



Hội đồng quản trị công ty sẽ mua lại cổ phần trôi nổi với giá 2.300 đồng một cổ phần. Từ tháng 9, mọi hoạt động của Tribeco Sài Gòn đã được chuyển sang cho Tribeco Bình Dương (công ty 100% vốn nước ngoài được sở hữu bởi Tập đoàn Uni-President, cổ đông lớn nhất của Tribeco Sài Gòn trước khi giải thể) tiếp quản. Như vậy lại thêm một thương hiệu lớn của DN Việt Nam bị thâu tóm như thế người ta dâng tên tuổi uy tín 20 năm này cho DN ngoại một cách dễ dàng.



Tribeco là thương hiệu quen thuộc với nhiều người tiêu dùng nội địa. Trong hơn 20 năm có mặt trên thị trường thì có đến 11 năm liền, Tribeco lọt vào danh sách Hàng Việt Nam chất lượng cao. Thậm chí, sản phẩm sữa đậu nành và nước ngọt có gas của Tribeco còn được đề xuất chọn làm sản phẩm công nghiệp chủ lực của TP.HCM.



Tribeco là một trong những DN lên sàn chứng khoán ngay từ những ngày đầu tiên. Cổ tức tiền mặt hàng năm duy trì đều đặn ở mức 15% - 18%. Vì điều này, suốt một thời gian dài, cổ phiếu TRI trở thành hàng "hot" được săn đón bởi các quỹ đầu tư tên tuổi .



Năm 2005, lãnh đạo của Tribeco nhận ra rằng, nếu không hợp tác để đẩy mạnh sự phát triển thì sẽ bị các đối thủ nước ngoài "tiêu diệt". Vì vậy, Tribeco đã bắt tay hợp tác với cổ đông lớn là Công ty cổ phần Bánh kẹo Kinh Đô (KDC) thông qua việc bán lại 35% cổ phần cho KDC.
Điều này, lúc đó được xem là tốt cho cả hai phía với những giá trị cộng hưởng hứa hẹn. Hai năm sau, Tribeco tiếp tục hợp tác với đối tác chiến lược Uni-President.
Được hậu thuẫn bởi hai "đại gia" tầm cỡ ngành thực phẩm, cổ đông Tribeco có lý do để kỳ vọng DN sẽ có những đột phá về doanh thu, lợi nhuận. Tuy nhiên, ngược lại, kết thúc năm tài chính 2008, Tribeco gây ra cú "sốc" lớn với toàn thị trường khi công bố lỗ 145 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 5,32 tỷ đồng dù 3 quý đầu năm báo lãi. Sau cú "sốc" đó, Tribeco bắt đầu "mất lái", liên tiếp 12/13 quý sau đó toàn thua lỗ. Quý duy nhất có lãi là từ thu nhập bất thường của hoạt động chuyển nhượng cổ phần.


Tính đến cuối năm 2011, Tribeco lỗ lũy kế tới 300 tỷ đồng, âm vốn chủ sở hữu. Theo thông báo của Tribeco tại đại hội cổ đông, 7 tháng đầu năm 2012, công ty lỗ khoảng 100 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu âm 126 tỷ đồng.



Biếu không cho nước ngoài



Một chuyên gia kinh tế cho rằng Tribeco đã trở thành nạn nhân trong cuộc chơi đầy toan tính của các "ông lớn", đặc biệt là một nhà đầu tư nước ngoài đầy kinh nghiệm như Uni-President. Với việc đẩy Tribeco rơi vào cảnh buộc phải giải thể, nhà đầu tư nước ngoài này được độc chiếm thương hiệu Tribeco.



Sau khi hợp tác với Kinh Đô, với tham vọng đưa Tribeco lên tầm cao mới, hai bên đã góp vốn đầu tư xây dựng nhà máy Tribeco Bình Dương (2006) và Tribeco miền Bắc (2007), trong đó Tribeco đều góp 80% vốn cho cả hai dự án, phần còn lại là của KDC.



Tuy nhiên, theo đánh giá thì do chiến lược sai lầm, hai nhà máy này không những không phát huy hiệu quả mà đẩy Tribeco vào cảnh nợ nần và trượt dài.
Hậu quả là khi Nhà máy Tribeco Bình Dương đưa vào hoạt động cuối năm 2007 với công suất hơn 40 triệu két/năm và tiếp theo là Nhà máy Tribeco miền Bắc vào năm 2008 nhưng sản lượng tiêu thụ của Tribeco ngày càng "teo" lại. Theo số liệu của Tribeco, trong năm 2005 DN này tiêu thụ được khoảng 8,14 triệu két, nhưng từ năm 2007-2010 sản lượng tiêu thụ chỉ xoay quanh con số 6 triệu két/năm.


Trong tình thế lỗ, đi vay vốn để cầm cự, Tribeco còn phải gánh vác nợ và các khoản chi cho Tribeco Bình Dương và Tribeco miền Bắc. Không những thế, khi vẫn đang còng lưng trả lãi cho các khoản vốn vay đầu tư các nhà máy, Tribeco lại vung tay đầu tư mua cổ phiếu KDC, Kidos và Sabeco.



Đầu tư tài chính, chi phí lãi vay khi đầu tư dự án, việc trích lập dự phòng nợ khó đòi kết hợp với chi phí lập kênh phân phối, chi phí khi tung sản phẩm mới ra thị trường... khiến Công ty thua lỗ lớn.



Và khi Tribeco Bình Dương thua lỗ nặng vào cuối năm 2008, Tribeco Sài Gòn sau đó đã dần dần bán hết phần vốn còn lại trong Tribeco Bình Dương cho chính Uni-President Việt Nam. Năm 2010, Tribeco Sài Gòn bán hết cổ phần ở Tribeco miền Bắc.



Ngoài ra, sau khi Tribeco Bình Dương đi vào hoạt động, Tribeco Sài Gòn đã quyết định đóng cửa hai nhà máy cũ tại TP.HCM. Như vậy, với việc giảm tỉ lệ nắm giữ và sau đó là bán hết vốn trong Tribeco Bình Dương, Tribeco Sài Gòn chỉ giữ vai trò là nhà bán hàng, hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn hàng do Tribeco Bình Dương cung cấp, mà thực chất là của Uni-President Việt Nam.



Một công ty đang ăn nên làm ra như Tribeco lẽ ra khi kết hợp với 2 đối tác lớn thì phải mạnh lên, thế nhưng, thực tế lại thua lỗ liên tục và dẫn đến giải thể, những công ty liên kết dần thuộc về tập đoàn nước ngoài từng là đối tác của mình, đây là điều thật khó hiểu.
 Từ đó, dư luận trong giới đầu tư cho rằng Uni-President đã có chủ đích thâu tóm và phải chăng chính một số cổ đông lớn đã tiếp tay?


Trong đại hội cổ đông thường niên diễn ra cuối tháng 6/2012 của Tribeco, toàn bộ người của Kinh Đô đã đồng loạt từ nhiệm, nhường chỗ cho người của Uni-President. Thành viên HĐQT người Việt Nam sau đó cũng đã từ nhiệm.
Kinh Đô thoái vốn hoàn toàn khỏi Tribeco. Như vậy, Tập đoàn Đài Loan nay đang kiểm soát toàn bộ thương hiệu nước giải khát Việt Nam.


Uni-President Việt Nam nắm quyền chi phối và sở hữu 100% Tribeco Bình Dương, giờ ung dung hưởng lợi. Với việc đẩy Tribeco rơi vào cảnh buộc phải giải thể, nhà đầu tư nước ngoài này được độc chiếm thương hiệu Tribeco gắn với "đuôi" Bình Dương, chưa kể còn được hưởng một thị phần đáng kể của sản phẩm này mà không phải tốn một đồng để xây dựng thương hiệu.



Sau khi khai tử thương hiệu Tribeco Sài Gòn, Tập đoàn Uni-President đã lên kế hoạch giải quyết cho những CBNV ở Sài Gòn có nhu cầu tiếp tục làm việc tại Bình Dương.
Cán bộ nhân viên của Tribeco Sài Gòn đã không khỏi ngậm ngùi tiếc nuối cho một thương hiệu của Việt Nam đã được dày công xây dựng trong hơn 20 năm qua, đến nay hoàn toàn nằm trong tay nhà đầu tư nước ngoài.
Câu hỏi mà họ băn khoăn chính là, khi đã nằm trong tay nước ngoài, số phận thương hiệu Tribeco sẽ như thế nào? Liệu có theo chân của một loạt các thương hiệu mạnh Việt Nam trước kia đã bị khai tử?
Theo Trần Thủy
VEF
Flag Counter